Phan Văn Song, TS
June 23, 2012
June 23, 2012
Việt Nam và môi trường: Đôi lời giới thiệu
Những
bài viết về những canh tác, vế canh nông tại Việt Nam ngày nay, như
nghề trồng Trà, nghề trồng Cao su, …hay những xâm phạm môi trường, …
những hiện tượng xã hội : trẻ em mồ côi, ăn xin , bán thuốc lá, bán vé
số … ở Việt Nam, chúng tôi thường dùng tài liệu của một Hôi Từ thiện mà
chúng tôi cũng là một đoàn viên thiện nguyện. Hôi Enfants du Mêkong –
«Những đứa con của Giòng sông Mếkông».
Hôi
thiện nguyện chúng tôi có nhiệm vụ theo dõi giúp đở, những đứa con
nuôi, sống tại chổ, và chúng tôi, những cha mẹ đở đầu giúp đở cho ăn học
cho đến thành tài. Con cái chúng tôi là công dân các quốc gia Đông Nam
Á. Thoạt đầu ba nước cựu Đông dương Pháp. Nay có thêm Miến điện, Thái
lan và Phi Luật Tân….Các con cái chúng tôi không qua ở với chúng tôi,
chúng tôi chỉ cầu mong sao các cháu biến thành những người công dân tốt,
hữu dụng cho quê hương các cháu.
Vi
vậy chúng tôi rất tha thiết với sự phát triển của các quê hương các con
cháu chúng tôi. Phát triển bền vững, phát triển hài hào, lâu dài vì đấy
là tươnh lai và môi trường sống của các con cháu của chúng tôi.
Riêng
đối với Việt Nam, vì chúng tôi là người Việt Nam nên chúng tôi chia sẻ
với quý vị những quan tâm của chúng tôi với quê hương ta. Chúng tôi
dùng tài liệu của Enfants du Mêkông để báo động với quý vị những người
quan tâm đến vận mệnh của đất nước mình.
Enfants
du Mêkông không có cái nhìn một nhà nghiên cứu khoa học, chúng tôi chỉ
những người thiện nguyện, vui trong cái vui của những gia đình tìm
đượcc một phương pháp sống, một phương sách làm ăn, nhưng chúng tôi cũng
buồn khi thấy những cái làm ăn bừa bải, không trách nhiệm, không chánh
sách. Chúng ta nhìn thấy cả hai mặt, … thí dụ chăn nuôi thì thường nuôi
thúc, làm ăn thi theo cách ăn xổi ở thì, mì ăn liền, thiếu viễn tượng,
tàn phá môi trường, đạo đức xã hôi.
Chúng
tôi đã chia sẻ với quý vị, trường hợp các người thiểu số Jarai, đang bị
đẩy ra khỏi rừng, môi trường sống của học. Chúng tôi đã chia sẻ với quý
vị nghề trồng trà Thái nguyên, tương lai đen tối Đồng bằng Sông Cửu
long đang bị ngập mặn. Hôm nay mời quý vị xem viễn ảnh nghề nuôi tôm
đang làm giàu Cà mau, nhưng ngày mai cũng sẽ làm nghèo Cà mau…
Đục nước Béo cò, cơn sốt nuôi tôm …
muôn người tạo sản, môi trường phá sản.
muôn người tạo sản, môi trường phá sản.
Cà Mau, Nghề Nuôi Tôm Đang Giúp Các Nhà Nông Trở Nên Triệu Phú. Thế Nhưng, Còn Môi Trường?
Cách
Sài gòn khoảng 360 cây số về phía Tây Nam, thị trấn Cà mau nếu từ trên
máy bay nhìn xuống thì chì thấy những kinh rạch chằng chịt bao quanh
thành phố. Vừa xuống tàu bay, chúng ta lại phải leo lên tàu thủy, để
cũng như mọi người, để cũng như mọi hàng hóa lênh đênh trên sông rạch.
Dọc theo con kinh chánh chạy ngang qua thị trấn Cà mau, những nhà kho,
những cửa hiệu mang những bảng hiệu đầy những hình vẽ quảng cáo những
hàng hóa nghề nghiệp buôn bán, kinh doanh những thủy sản, bằng hình vẽ
những thủy vật, tôm, cá …
Thân hình mảnh khảnh của anh Bửu Khanh đã đứng chờ sẳn chúng tôi trên bến tàu. « Bienvenue à Cà mau, le pays des crevettes !
» ( Cà mau xứ của tôm chào quý bạn) anh chào chúng tôi bằng Pháp ngữ.
Đúng như câu nói của anh Bử Khanh, Cà mau là xứ của tôm. .
Cà
mau khác thời xưa, xứ của đỉa và muổi, Cà mau ngày nay phát triển ngoạn
mục kể từ ngày chuyển sang nghề nuôi tôm. Thật vậy, nghể tôm đã đưa Cà
mau lên hàng số một của ngành xuất cảng tôm. Từ 20 000 mẫu thuở ban
đầu năm 2000, ngày nay Cà mau đã dùng 250 000 mẫu vào ngành khai thác
nuôi tôm, chiếm phân nửa toàn thể tổng sản xuất ngành tôm cả nước Việt
Nam.
Và
kết quả thấy ngay trước mắt : toàn thể 200 000 cư dân của cái thị trấn
nhỏ bé nầy, trước khi sống chật vật với nghề làm ruộng cực khổ nay đã
giàu ra mặt. Có người đã nâng lợi tức lên bằng 4 bằng 5 lần hơn.
Anh
Bửu Khanh, nụ cười vui vẽ trên khuôn mặt rạm nắng khoe với chúng tôi
những biến chuyển của cửa hàng kinh doanh của gia đình. Từ những ngày
đầu cực khổ với nghề nông, năm 1990 anh thấy cần phải có một sự biến đổi
để sống ở Việt Nam. Cũng phải chấp nhận rằng Bửu Khanh là một người học
giỏi, khôn ngoan, năng động, nhiều sáng kiến. Sau khi được gởi đi du
học, anh tốt nghiệp Thạc sĩ (Master) Kinh tế tại Đại học Paris 2, anh
vừa đồng thời đang học một đệ tam cấp về ngành Quản trị và cũng đồng
thời nghiên cứu về cách khai thác ngành thủy sản, vì anh không muớn
tiếp tục nghề nông ở Cà mau nữa mà muốn làm một cái gì khác.. Năm 1993,
anh trở về Cà mau, cùng gia đình lập một trang trại kiểu mẫu nuôi tôm.
Anh tuyên bố với mọi người « Vấn để chậm tiến không phải vì nghèo, mà là vì thiếu hiểu biết ». Và anh hãnh diện khoe với chúng tôi : «
Với tất cả những bằng cấp của tôi, tôi chấp nhận làm một người nông dân
để chứng minh cho đồng bào tôi biết là tôi có lý, và nuôi tôm sẽ sống
được »
Đứng
trước năm cái hồ lớn, với tiếng máy chạy ồn ào của các cánh quạt đang
quậy sóng để đem dưởng khí vào nước, Bửu Khanh kể với chúng tôi làm sao
anh biến những cánh đồng ruộng trồng lúa thành những hồ nuôi tôm. « Sông Mékong đang bị nhiểm mặn, chúng tôi bắt buộc chỉ còn phải làm một mùa lúa thôi. Mùa
còn lại phải xoay qua nuôi tôm. Nhà nước khuyến khích, và chia tỉnh
chúng tôi làm hai vùng : vùng Nam Cà mau biến thằnh vùng nuôi tôm, vùng Bắc vẫn tiếp tục trồng lúa
». Giao cho các công ty chế biến, đóng gói xuất cảng ; mỗi kí tôm có
thừa sức mua mười đến hai mươi kí thóc / gạo. Riêng phẩm chất cao của
tôm của Bửu Khanh có thể mang đến 30 kí thóc.
Chia
vùng Cà mau để trồng lúa và trồng tôm như Bửu Khanh kể chỉ là vấn đề lý
thuyết. Đến ngày hôm nay, nhà cầm quyền địa phương vẫn khuyến khích
phương pháp khai thác nửa tôm, nửa lúa, theo mùa nước : mùa mưa nhiều
nước ngọt trồng lúa, mùa khô, sông bị nhiểm mặn, nuôi tôm. Nhưng với
người nông tìm cách cứu ruộng mình tạo những hệ thống dẩn thủy nhập
điền, vì cố tìm cách loại bỏ nước mặn, để cứu những vùng trồng lúa.
Chẳng chốc, đã chẳng loại được nước mặn, mà không bao lâu, đã biến cả
vùng Cà mau thành vùng nước lợ, gần hai phần ba hệ thống khai thác nửa
tôm, nửa lúa hoàn toàn kiệt quệ, nông dân mất mùa, phá sản. Nhiều gia
đình đã bỏ xứ ra đi. Kể cả những công ty thủy sản, nước bị nhiểm mặn quá
độ, không khai thác gì được cả.
Muốn
có một hệ thống hữu hiệu, để bảo đảm nước ngọt và sàn lọc bỏ nước mặn,
phải có một số vốn khổng lồ. Nhà nước khuyến khích, nhưng không tiền thì
vô vọng. Chỉ còn có cách nuôi thúc tôm thôi ( culture intensive) !
Cũng
có lúc Nhà nước cũng có nghĩ đến một chương trình biến phân nửa diện
tích nuôi tôm ở Cà mau chuyển qua nuôi tôm sinh thái, vì nghĩ rằng nuôi
tôm sinh thái (biologique) sẽ đem thêm 20 % lợi nhuận hơn nuôi tôm bình
thường mà còn bảo vệ được môi trường.
Thế
nhưng, tại ngay Cà mau nầy, hiện tượng nuôi tôm ngày nay nổ tung lên
như cuộc một cơn sốt đi tìm vàng. Phần đông các trang trại trung bình
lay hoay chỉ khoảng mẫu đất, chỉ vài cái được hơn mươi mẫu. Còn những
trang trại thật sự có bề thề và làm ăn có lợi phải vượt trên 50 mẫu. « Nhưng khổ nỗi, các nhà máy đóng gói được trang bị tối tân và to lớn, hiện nay các nhà nước chỉ thật sự hoạt động chỉ bằng 60% năng lực. Vì vậy Nhà nước phải bắt buộc thúc đẩy việc nuôi thúc thôi ! (culture intensive) » Anh Bửu Khanh nói. .
Ngược lại với những quyết định và ước muốn sản xuất tôm chi thái, ban đầu.
Nuôi
thúc là gi ? là không tôn trọng những luật lệ thiên nhiên : nhét nhiều
tôm vào hồ, cho ăn nhiều, và dùng bơm để thay nước, thêm dưởng khí
tạo điều kiện sống bằng kỹ thuật « nhơn tạo » cho loài tôm, trái với
nuôi thả (culture extensive) hạn chế tôn trọng số lượng tôm trong một
khối nước nhứt định, tôn trọng thiên nhiên, tôn trọng sự tái tạo môi
sanh tự nhiên, theo mực nước thủy triều theo phương pháp cổ truyền.
Tàn phá môi trướng, phá rừng đước nước mặn (mangroves):
Cà
mau ngày nay, ngoài khủng hoảng nghề trồng lúa gạo vì con số các mẫu
ruộng dành cho canh tác lúa gạo càng ngàg càng ít đi do nguồn nước đồng
bằng sông Cửu long đang đang bị nhiểm mặn, do môi trường bị tàn phá
bởi chánh sách khai thác thủy sản bừa bãi. Đốn chặt cây bừa bãi để xây
dựng hồ nuôi tôm, không tôn trọng những vùng rừng ngập nước đã tàn phá
vùng rừng ngập mặn, (mangroves.) của Cà mau. một vùng rừng ngập mặn,
đứng hàng thứ hai trên thế giới, chỉ thua vùng rừng ngập mặn của sông
Amazone, Nam mỹ thôi.
Hệ
quả, tôm không còn được những món ăn thiên nhiên nữa, vì vậy bắt buộc
phải nuôi bằng thức ăn nhơn tạo. Cái vòng lẫn quẫn rất tệ hại.
Trong
cái thế giới ấy, những người bị thiệt thòi nhứt vẫn là những nhà chăn
nuôi nhỏ. Họ không làm sao trả nổi những nợ nần do mua sắm phương tiện
kỹ thuật. : « Ở đây đất đầy phèn chua, phải làm dịu đất lại. Nước đầy chất bẩn do các chất thải của các nhà máy trên sông rạch » anh
Văn Hiền, người có sở canh tác láng giềng anh Bửu Khanh nhận xét. Anh
Văn Hiền ngày nay làm đi công cho anh Bửu Khanh. Cách đây bảy năm, anh
đã biến thửa ruộng lúa của anh thành hồ nuôi tôm, nhờ vậy gia đinh anh
sống cũng khá sung túc. Nhưng tháng vừa qua, những cơn mưa lũ đầu mùa
tràn đầy hồ nuôi giết sạch bầy tôm của vợ chồng anh, và anh mất sạch. Vợ
anh hiện nay cũng phải đi làm thợ đóng gói tôm cho một Hảng xuất cảng
Tôm.
Hôm
ngày là ngày vớt tôm của công ty của anh Bửu Khanh. Các bạn bè, láng
giềng, người làm công họp tới phụ với anh. Ngâm nửa mình dưói nước, một
chiếc nón lá che đầu, tất cả dùng lưới để vớt tôm lên. Trên bờ những
giỏ đầy tôm đang sắp ,hàng chờ cân và chở đi đóng gói xuất khẩu. Tôm to
được bán 200 000 đồng một kí, tôm nhỏ 60 000 thôi. Nụ cười to toét trên
môi Bửu Khanh tin tưởng vào phương pháp nuôi thúc. Anh mong rằng các
nông dân chuyển nghề sẽ phải được huấn luyện để đạt phẩm chất của tôm
công ty của anh và không phá môi trường. Nhưng có trễ lắm không ?
Đồng bằng Sông Cửu long, vựa lúa Miền Nam có còn đó không ? Và còn bao lâu nữa.
Viết theo phóng sự của Geoffroy Caille thuộc Tổ chức Enfants du Mékong. 20 tháng 6 năm 2012
TS. Phan Văn Song
www.vietthuc.org

No comments:
Post a Comment